Dự thảo Nghị định về Hợp tác xã nông nghiệp

Chủ đề thuộc danh mục 'Thảo luận chính sách ' được đăng bởi truonghx, 20/01/2016

 
BỘ NÔNG NGHIỆP

VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Số:             /TTr-BNN-KTHT

 

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hà Nội, ngày        tháng        năm 2015

TỜ TRÌNH

Về việc ban hành Nghị định về Hợp tác xã nông nghiệp

 

 


Kính gửi: Thủ tướng Chính phủ.

 

Thực hiện Nghị quyết số 74/NQ-CP ngày 4/10/2014 phiên họp thường kỳ Chính phủ tháng 9 năm 2014 và Chỉ thị số 19/CT-TTg ngày 24/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh triển khai thi hành Luật Hợp tác xã, trong đó giao cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nghiên cứu, xây dựng Nghị định của Chính phủ về Hợp tác xã nông nghiệp.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng dự thảo Nghị định về hợp tác xã nông nghiệp và kính trình Thủ tướng Chính phủ những nội dung cơ bản như sau:

I.  TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP HIỆN NAY

1.  Thực trạng Hợp tác xã nông nghiệp

a) Tình hình phát triển của các hợp tác xã trong lĩnh vực nông nghiệp

Đến hết năm 2014 cả nước có 18.837 hợp tác xã với số vốn điều lệ bình quân 1.354 triệu đồng/hợp tác xã; doanh thu bình quân ước đạt 2.986 triệu đồng/hợp tác xã/năm. Trong lĩnh vực nông nghiệp có 10.446 hợp tác xã nông nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực: Trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, thủy lợi, lâm nghiệp, diêm nghiệp và các dịch vụ phục vụ nông nghiệp (sau đây gọi tắt là hợp tác xã nông nghiệp) chiếm 55,5% tổng số hợp tác xã trong cả nước. Đa số các hợp tác xã nông nghiệp là các hợp tác xã kinh doanh tổng hợp (khoảng 7.753 hợp tác xã, chiếm 74,2%). Số lượng các hợp tác xã chuyên ngành không nhiều (khoảng 2.693 hợp tác xã, chiếm 25,8%), trong đó có: 1.210 hợp tác xã trồng trọt, 289 hợp tác xã chăn nuôi, 461 hợp tác xã thủy lợi, 151 hợp tác xã lâm nghiệp, 526 hợp tác xã thuỷ sản, 56 hợp tác xã diêm nghiệp. Các hợp tác xã nông nghiệp nhiều nhất là ở vùng đồng bằng sông Hồng (34,8%), Bắc Trung bộ (18,1%), Đông Bắc bộ (17,1%), đồng bằng Sông Cửu Long (11,5%). Hiện nay trên phạm vi cả nước tuy số lượng hợp tác xã nông nghiệp thành lập mới mỗi năm khá cao khoảng 800 hợp tác xã/năm, song do số lượng hợp tác xã nông nghiệp giải thể vì hoạt động kém hiệu quả cũng rất lớn khoảng 550 Hợp tác xã/năm nên về tổng số hợp tác xã nông nghiệp tăng trung bình chỉ khoảng 250 hợp tác xã/năm, không tăng nhiều hơn so với trước khi Luật Hợp tác xã năm 2012 ra đời.

Về thành viên và hoạt động của hợp tác xã: Hiện nay cả nước có hơn 7,3 triệu thành viên hợp tác xã, trong đó có khoảng gần 6,7 triệu hộ gia đình, cá nhân là thành viên hợp tác xã nông nghiệp, đạt tỷ lệ khoảng 45% trên tổng số hộ nông nghiệp, nông thôn, trung bình là 640 thành viên/hợp tác xã. Lợi nhuận bình quân khoảng 200 triệu đồng/hợp tác xã/năm; thu nhập bình quân của các thành viên và người lao động ước đạt trên dưới 1,0 triệu đồng/người/tháng. Đa số các hợp tác xã nông nghiệp hiện nay thực hiện các dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt ở nông thôn (thấp nhất là 3 và nhiều nhất là 16 dịch vụ), gồm: Cung ứng các dịch vụ đầu vào (giống, vật tư, phân bón, tưới tiêu …), bảo quản, chế biến, tiêu thụ sản phẩm; quản lý và khai thác cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp, thực hiện liên kết với các doanh nghiệp để đầu tư sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản. Một số hợp tác xã nông nghiệp có sự đổi mới về phương thức hoạt động, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, thực hiện liên kết với các doanh nghiệp, do đó đã nâng cao được hiệu quả hoạt động của hợp tác xã, thu nhập của các thành viên và khẳng định được vai trò kinh tế hợp tác cho các hộ gia đình thành viên.

Về tình hình vốn, quỹ của các hợp tác xã: Nhìn chung các hợp tác xã nông nghiệp đều thiếu vốn để sản xuất, kinh doanh. Mức vốn trung bình của các hợp tác xã đều rất thấp và chủ yếu là vốn tài sản cố định đã sử dụng lâu năm như nhà xưởng, mương máng, trạm bơm, máy móc và thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp khác nhưng cũng đã xuống cấp, lạc hậu. Các hợp tác xã nông nghiệp thường rất khó tiếp cận được với nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng do không có tài sản thế chấp, hoạt động sản xuất kinh doanh rủi ro cao, sổ sách kế toán chưa minh bạch và chưa xây dựng được các phương án kinh doanh khả thi. Điều này làm ảnh hưởng đến năng lực sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh tranh của hợp tác xã.

b) Tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển đối với các hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp

Theo báo cáo của 63 tỉnh, thành phố kể từ khi Luật Hợp tác xã ra đời năm 2012 các địa mới chỉ tập trung vào hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ hợp tác xã nông nghiệp được 57.729 lượt người với số tiền 234 tỷ 485 triệu đồng và hỗ trợ thành lập mới được 710 hợp tác xã với số tiền 9 tỷ 246 triệu đồng; còn lại số lượng hợp tác xã nông nghiệp tiếp cận với các chính sách hỗ trợ khác vẫn còn ít, cụ thể: Có 434 hợp tác xã (chiếm 4,13 %) được hỗ trợ ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ mới với số tiền 59 tỷ 595 triệu đồng, 240 hợp tác xã (chiếm 2,29%) được hỗ trợ tổ chức lại hoạt động với số tiền 751 triệu đồng, 57 hợp tác xã (chiếm chưa đầy 1%) được hỗ trợ đầu tư kết cấu hạ tầng được với số tiền 73 tỷ 670 triệu đồng, 122 hợp tác xã (chiếm 1,16%) được hỗ trợ xúc tiến thương mại được với số tiền 01 tỷ 498 triệu đồng; việc hỗ trợ khai thác thủy sản theo Nghị định số 67/2013/NĐ-CP về thủy sản mới chỉ tập trung vào hỗ trợ cá nhân, chủ tàu, còn số hợp tác xã được hỗ trợ không đáng kể (có 04 hợp tác xã được hỗ trợ 138 triệu đồng); về hỗ trợ lãi suất chỉ có 938 hợp tác xã (chiếm 8,93%) được vay 436 tỷ 406 triệu đồng; số hợp tác xã nông nghiệp được tiếp cận với Quỹ hỗ trợ hợp tác xã là 743 hợp tác xã (chiếm 7,07%) với số tiền vay 249 tỷ 638 triệu đồng. Các hợp tác xã tiếp cận với chính sách đất đai cũng hạn chế, đến nay mới có 26,6% số hợp tác xã có trụ sở còn lại phải đi thuê, mượn và khoảng 2% hợp tác xã nông nghiệp được thuê đất sản xuất kinh doanh. Một số chính sách được ban hành nhưng hợp tác xã nông nghiệp tiếp cận khó khăn, như việc đối tượng thụ hưởng chính sách phát triển thủy sản theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP mới chỉ đến các hộ cá thể, chủ tàu, còn các hợp tác xã chưa tiếp cận được.

Đứng trước nhu cầu cấp thiết về việc hỗ trợ phát triển các hợp tác xã nông nghiệp trong tình hình mới nhiều địa phương có điều kiện đã ban hành và thực hiện một số chính sách đặc thù như:

- Thành phố Hồ Chí Minh hỗ trợ cho 26/65 hợp tác xã nông nghiệp để mỗi hợp tác xã thuê tối đa 02 cán bộ có trình độ đại học, cao đẳng về làm việc tại hợp tác xã với mức hỗ trợ: 1.200.000 đồng/tháng với người trình độ đại học; 800.000 đồng/tháng với người trình độ cao đẳng; kết quả từ năm 2014 đến nay đã hỗ trợ với tổng kinh phí hỗ trợ 598,4 triệu đồng cho 49 cán bộ về làm việc tại các hợp tác xã; Thành phố Đà nẵng đã hỗ trợ các hợp tác xã tiếp nhận 05 sinh viên tốt nghiệp đại học về làm việc. Tỉnh Đồng tháp bỏ tiền đào tạo các bộ các cán bộ ở cơ quan chuyên môn cấp huyện kiến thức về hợp tác xã và cử biệt phái về hỗ trợ hợp tác xã nông nghiệp trong vòng 3 năm. Hiện đã có 15 cán bộ đang công tác tại các trạm, trại được đưa về làm phó giám đốc hợp tác xã.

- Thành phố Hồ Chí Minh, Hà nội và nhiều địa phương khác hỗ trợ từ 50 đến 100 triệu đồng/hợp tác xã mới thành lập tiền để thuê văn phòng, trụ sở và mua sắm trang thiết bị văn phòng.

- Tỉnh Thái bình, Ninh Bình và Vĩnh Phúc hỗ trợ các hợp tác xã nông nghiệp lãi suất mua máy gặt đập liên hợp, ô tô vận chuyển rác thải trong vòng 02 năm với mức vốn vay 500 triệu đồng/hợp tác xã.

- Tỉnh Đồng Tháp hỗ trợ 50% tiền giải phóng mặt bằng và chuyển đổi mục đích sử dụng đất nếu hợp tác xã có dự án xây dựng nhà kho, nhà máy chế biến, kinh doanh nông sản được cấp thẩm quyền phê duyệt.

2. Một số tồn tại, hạn chế:

a) Về tổ chức lại hợp tác xã hoạt động theo Luật: Đến tháng 10 năm 2015 mới có khoảng gần 23,3% hợp tác xã nông nghiệp đã đăng ký lại hoạt động theo Luật. Do đó phần lớn các hợp tác xã nông nghiệp hiện nay về phương thức hoạt động vẫn chưa có sự thay đổi, tư duy hoạt động còn nặng về hành chính, bao cấp theo phương thức hợp tác xã kiểu cũ.

b) Đa số các hợp tác xã nông nghiệp hiện nay mới chỉ tập trung hoạt động đối với các dịch vụ đầu vào cho sản xuất nông nghiệp như: Cung ứng giống, vật tư, phân bón, bảo vệ thực vật, thủy lợi nội đồng…; còn các dịch vụ rất quan trọng như: bảo quản, chế biến, tiêu thụ sản phẩm chưa được quan tâm, nên số hợp tác xã thực hiện việc bao tiêu nông sản cho nông dân ít, hiện mới chỉ có khoảng 10% số hợp tác xã thực hiện việc bao tiêu một phần nông sản cho nông dân. Từ đó chưa hỗ trợ cho việc gia tăng sản lượng và giá trị của sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó có một số hợp tác xã được hình thành không đúng bản chất của hợp tác xã theo Luật quy định, chủ yếu là để hưởng các chính sách hỗ trợ của nhà nước.

c) Nhiều hợp tác xã nông nghiệp còn lúng túng trong định hướng hoạt động và đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, chưa có sản phẩm dịch vụ tốt để đáp ứng nhu cầu sản xuất hàng hóa; thiếu sự liên kết chặt chẽ giữa hợp tác xã với thành viên nên hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp còn hạn chế: Nếu xem xét trên góc độ về khả năng tái mở rộng các hoạt động dịch vụ sản xuất và lợi ích mà hợp tác xã mang lại cho thành viên thì hiện mới chỉ có khoảng trên 10% hợp tác xã nông nghiệp hoạt động đạt hiệu quả cao; khoảng 80% hoạt động trung bình và yếu; 7,3% hợp tác xã hoạt động kém hoặc ngừng hoạt động (760 hợp tác xã). Do hiệu quả hoạt động hạn chế, lợi ích mang lại cho thành viên chưa cao nên người nông dân chưa hăng hái tham gia, gắn bó với hợp tác xã, chưa coi hợp tác xã là “nhà của mình”.

d) Việc hình thành các chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm giữa nông dân, các tổ chức của nông dân, các doanh nghiệp còn có nhiều hạn chế. Hiện nay nhu cầu liên kết là rất lớn, tuy nhiên số các hợp tác xã thực hiện liên kết được với doanh nghiệp để tiêu thụ sản phẩm còn ít. Người nông dân nói chung vẫn phải “tự làm, tự bán” là chính, dẫn đến rủi ro nhiều trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và thu nhập của người dân. Trong những lĩnh vực sản xuất hàng hóa phát triển như lúa gạo ở Đồng bằng Sông Cửu Long, sữa bò, mía đường, cà phê, hồ tiêu cũng chỉ có khoảng 10-15% số lượng nông sản được tiêu thụ thông qua các tổ hợp tác và hợp tác xã.

3. Nguyên nhân tồn tại:

a) Nhận thức về hợp tác xã nông nghiệp của các cấp, các ngành và chính bản thân người nông dân về vai trò của hợp tác xã nông nghiệp chư­­­a đúng với bản chất của hợp tác xã theo Luật năm 2012. Các quy định về tổ chức hoạt động, tài sản và sở hữu đối với tài sản của hợp tác xã và của từng thành viên, các chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã và đặc biệt là trách nhiệm quản lý nhà nước của các bộ, ngành đối với hợp tác xã nông nghiệp còn chung chung gây tâm lý e ngại cho người dân khi tham gia hợp tác xã.

b) Tình hình vốn, quỹ của các hợp tác xã nông nghiệp còn khó khăn: Mức vốn bình quân của các hợp tác xã nông nghiệp thấp và chủ yếu là vốn tài sản cố định đã sử dụng lâu năm, nhà xưởng và thiết bị xuống cấp, lạc hậu. Đa số các hợp tác xã nông nghiệp thiếu vốn để sản xuất, kinh doanh; các hợp tác xã nông nghiệp rất khó tiếp cận được với nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng, trong khi đó việc huy động vốn từ thành viên khó khăn ảnh hưởng đến năng lực sản xuất kinh doanh và khả năng  cạnh tranh của hợp tác xã.

c) Chất lượng nguồn nhân lực của các hợp tác xã nông nghiệp thấp. Hiện nay đa số cán bộ chủ chốt hợp tác xã nông nghiệp hiện có trình độ chuyên môn nghiệp vụ hạn chế, ít được đào tạo. Tư duy phát triển sản xuất kinh doanh chưa theo kịp với sự phát triển của cơ chế thị trường, thiếu tính nhạy bén và năng động trong tổ chức điều hành sản xuất kinh doanh. Theo thống kê ở thời điểm năm 2014, trong khi các hợp tác xã khá và giỏi có tỷ lệ cán bộ qua đào tạo cao đẳng và đại học đều vượt trên 52% tổng số cán bộ của hợp tác xã thì ở các hợp tác xã yếu kém tỷ lệ này là dưới 8%, hợp tác xã xếp loại trung bình là 19%.

d) Khung pháp lý và hệ thống chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã chưa phù hợp và thiếu tính đồng bộ: Một số quy định mang tính pháp lý còn chung chung, chưa phù hợp với đặc thù của hợp tác xã nông nghiệp. Chính sách hỗ trợ hợp tác xã tuy nhiều nhưng chưa đủ mạnh và thiếu đồng bộ, thiếu những cơ chế, chính sách mang tính đột phá để hỗ trợ mạnh mẽ và thiết thực cho hợp tác xã nông nghiệp. Sau Luật Hợp tác xã 2012 ra đời, Chính phủ đã có Nghị định số 193/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 hướng dẫn thi hành Luật Hợp tác xã áp dụng cho các hợp tác xã nói chung; một số chưa phù hợp với đặc thù của hợp tác xã nông nghiệp, cụ thể là:

- Nghị định 193/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định tỷ lệ cung ứng dịch vụ cho khách hàng không phải là thành viên của hợp tác xã nông nghiệp không được vượt quá 32% đang trở thành khó khăn cho các hợp tác xã nông nghiệp trong quá trình đăng ký lại và tổ chức sản xuất theo Luật Hợp tác xã mới.

- Thiếu chính sách đặc thù để hỗ trợ cho sự phát triển của các hợp tác xã nông nghiệp hoạt động trong từng lĩnh vực cụ thể khác nhau như: trồng trọt, chăn nuôi, thủy lợi, thủy sản lâm nghiệp và diêm nghiệp.

- Thiếu các chính sách hỗ trợ công trình hạ tầng vùng nuôi trồng thủy sản, hạ tầng công trình xử lý chất thải tập trung trong chăn nuôi, chế biến nông sản.

- Chưa có chính sách hỗ trợ hợp tác xã nông nghiệp thu hút nhân lực đã qua đào tạo, nhân lực có chất lượng về làm việc tại hợp tác xã để giải quyết tồn tại về chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, điều hành hợp tác xã nông nghiệp hiện nay đa số trình độ chưa đáp ứng được yêu cầu.

- Chính sách hỗ trợ ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới còn chung chung, chưa rõ nội dung và kinh phí hỗ trợ. Đã có chính sách hỗ trợ theo VietGAP nhưng triển khai chưa sâu rộng, nhiều nơi chỉ dừng ở một số mô hình trình diễn, chưa nhân rộng do thiếu văn bản hướng dẫn về cơ chế hỗ trợ cụ thể và các quy phạm thực hành GAP. Thiếu các chính sách hỗ trợ hợp tác xã nông nghiệp mua thiết bị công nghệ mới phục đánh bắt thuỷ, hải sản.

- Chính sách hỗ trợ xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường cũng chung chung, chưa rõ nội dung và kinh phí hỗ trợ.

- Thiếu chính sách hỗ trợ xử lý ô nhiễm môi trường, hỗ trợ hợp tác xã mua bảo hiểm nông nghiệp.

đ) Công tác quản lý nhà nước đối với hợp tác xã nông nghiệp từ trung ương đến địa phương thiếu rõ ràng, còn có sự chồng chéo trong phân công nhiệm vụ và chưa có sự phối hợp giữa các cơ quan được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về hợp tác xã nông nghiệp. Ở Trung ương công tác quản lý nhà nước về hợp tác xã giao cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư làm đầu mối, ở cấp tỉnh là Sở Kế hoạch và Đầu tư. Bộ Nông nghiệp và PTNT, Sở Nông nghiệp và PTNT ở các tỉnh, Phòng Nông nghiệp và PTNT ở các huyện có chức năng quản lý nhà nước đối các hợp tác xã trong ngành nông nghiệp nhưng không được quy định rõ nên khó thực hiện; bộ máy và lực lượng cán bộ quản lý nhà nước đối với hợp tác xã nông nghiệp hầu như không có.

II.  SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH NGHỊ  ĐỊNH VỀ HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP

1. Trong quá trình thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp hợp tác xã nông nghiệp đóng vai trò quan trọng để tổ chức nông dân tham gia các chuỗi giá trị để áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh có hiệu quả cao hơn. Yêu cầu phải có các hình thức hợp tác, hợp tác xã liên kết đang trở nên bức xúc ở nhiều nơi. Đã có một số văn bản pháp lý quy định về hoạt động của các hợp tác xã nói chung, tuy vậy chưa phản ánh sát đặc thù của các hợp tác xã hoạt động trong các lĩnh vực nông nghiệp với hầu hết xã viên là các hộ sản xuất nhỏ, nguồn lực hạn chế; đối tượng hoạt động đa dạng gắn với đất đai, rừng, biển có nhiều rủi ro do thiên tai, dịch bệnh và biến động của thị trường, do vậy cách thức tổ chức hoạt động khác nhau, cần có các quy định phù hợp phản ánh sát hơn các đặc thù này của các hợp tác xã nông nghiệp.

2. Cần có những chính sách mạnh mẽ phù hợp với đặc điểm hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp để hỗ trợ và thúc đẩy phát triển hợp tác xã nông nghiệp theo định hướng mới. Các hợp tác xã nông nghiệp không phải là tổ chức hoạt động độc lập mà phải trở thành một phần trong chuỗi giá trị nông nghiệp, tạo điều kiện để nông dân tham gia có hiệu quả hơn vào các chuỗi giá trị nông nghiệp này.

3. Cần có Nghị định quy định rõ hơn trách nhiệm của các cơ quan thuộc ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn trong việc tham mưu quản lý nhà nước đối với hợp tác xã nông nghiệp để xây dựng bộ máy và tổ chức các hoạt động cần thiết hỗ trợ tích cực phát triển hợp tác xã trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn.

Xuất phát từ những vấn đề trên đây, thực tiễn đang đặt ra những yêu cầu cấp thiết để Chính phủ ban hành Nghị định về Hợp tác xã nông nghiệp.

III. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU VÀ PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG:

1. Mục đích:

Quy định rõ về tổ chức và hoạt động, vấn đề sở hữu tài sản và phân phối lợi ích của hợp tác xã và các thành viên hợp tác xã, bổ sung chính sách hỗ trợ phù hợp với đặc thù của hợp tác xã nông nghiệp và trách nhiệm quản lý nhà nước của ngành nông nghiệp đối với hợp tác xã nông nghiệp.

2. Yêu cầu: Nghị định xây dựng phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

a) Các quy định phải phù hợp với Luật Hợp tác xã năm 2012 nói riêng và các quy định của pháp luật nói chung;

b) Các quy định mới không trùng lặp với những quy định của văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Hợp tác xã đã ban hành (Nghị định 193/2013/NĐ-CP và các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ đã ban hành);

c) Quy định các vấn đề để tháo gỡ những khó khăn vướng mắc có tính đặc thù của các hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp đang gặp và phù hợp với thực tiễn.

3. Phạm vi, đối tượng:

a) Phạm vi điều chỉnh: Quy định chi tiết về đặc thù liên quan đến tài sản, hoạt động và phương thức phân phối lợi ích của hợp tác xã nông nghiệp; các chính sách hỗ trợ; trách nhiệm quản lý nhà nước đối với hợp tác xã nông nghiệp, liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp của ngành nông nghiệp.

b) Đối tượng áp dụng: Áp dụng đối với hợp tác xã nông nghiệp, thành viên của hợp tác xã nông nghiệp, liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp, các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình liên quan đến thành lập, hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp.

IV. CĂN CỨ PHÁP LÝ BAN HÀNH NGHỊ ĐỊNH VỀ HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP

1. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12 ngày 03 tháng 06 năm 2008.

2. Luật Hợp tác xã số 23/2012/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2012.

3. Nghị quyết số74/NQ-CP ngày 4/10/2014 phiên họp thường kỳ của Chính phủ tháng 9 năm 2014.

4. Chỉ thị số 19/CT-TTg ngày 24/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh triển khai thi hành Luật Hợp tác xã.

5. Tổng hợp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về đề nghị, ý kiến tham gia dự thảo Nghị định của các Bộ, Ngành, địa phương (có bản giải trình các ý kiến góp ý của các Bộ, Ngành, địa phương kèm theo hồ sơ trình).

V. QUÁ TRÌNH SOẠN THẢO VÀ LẤY Ý KIẾN GÓP Ý VÀO DỰ THẢO

1. Quá trình soạn thảo:

- Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có Quyết định số 4523/QĐ-BNN-KTHT ngày 21/10/2014 thành lập Ban soạn thảo và Tổ biên tập Nghị định với 20 thành viên thuộc các Bộ, ngành: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Kế hoạch và Đầu tư; Tư pháp; Tài chính; Nội vụ; Tài nguyên và Môi trường; Công thương, Lao động thương bình và Xã hội; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam.

- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tổ chức họp Ban soạn thảo, Tổ biên tập và tổ chức nhiều đợt khảo sát đến các địa phương để thực hiện xây dựng dự thảo Nghị định. Đã tổ chức 03 hội nghị toàn quốc ngày 14/10/2014, ngày 12/3/2015, ngày 10/4/2015; 03 cuộc hội thảo theo khu vực lấy ý kiến các địa phương: Đồng bằng sông Hồng ngày 17/11/2014, miền núi và trung du phía Bắc ngày 13/12/2014, các tỉnh Duyên hải miền Trung ngày 26/12/2014; 01 cuộc hội thảo lấy ý kiến các hợp tác xã nông nghiệp và Liên minh Hợp tác xã thành phố Hà Nội ngày 21/4/2015.

2. Quá trình lấy ý kiến góp ý vào Dự thảo Nghị định:

Trên cơ sở các ý kiến tham gia, Ban soạn thảo đã hoàn thiện dự thảo Nghị định để xin ý kiến rộng rãi 02 lần, cụ thể:

- Tổ chức lấy ý kiến các Bộ, ngành, địa phương và các đơn vị liên quan lần 1 ngày 18/5/2015. Kết quả có 15 Bộ, ngành, đơn vị liên quan (Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài Chính, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động TBXH, Bộ Nội vụ, Bộ Công thương, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Việt Nam; Liên minh Hợp tác xã Việt Nam; Tổng cục Thủy sản, Tổng cục Thủy lợi, Tổng cục Thủy lợi; Cục Trồng trọt, Cục Chăn nuôi, Cục Chế biến NLTS và muối) và 57/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có ý kiến tham gia góp ý vào dự thảo Nghị định về Hợp tác xã nông nghiệp. Trong đó có 550 ý kiến tham gia góp ý với 369 nội dung.

- Sau khi tổng hợp các ý kiến tham gia, có nhiều nội dung chưa được thống nhất nên Ban soạn thảo đã hoàn thiện dự thảo Nghị định, báo cáo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức lấy ý kiến lần 2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đăng tin công khai trên trang thông tin điện tử của Bộ và Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn; tổ chức lấy ý kiến các Bộ, Ngành, địa phương và các đơn vị liên quan lần 2 ngày 29/8/2015; đồng thời tổ chức 03 cuộc hội thảo ngày 18, 19/8 và Hội nghị Diễn đàn hợp tác xã, tổ hợp tác nông nghiệp lấy ý kiến vào dự thảo Nghị định. Tính đến hểt ngày 16 tháng 9 năm 2015, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã nhận được ý kiến góp ý vào dự thảo Nghị định về Hợp tác xã nông nghiệp của 16 Bộ, ngành, đơn vị liên quan (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài Chính, Bộ Tài nguyên và MT, Bộ Lao động TBXH, Bộ Nội vụ, Bộ Công thương, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Liên minh Hợp tác xã Việt Nam; Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam; Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Tổng cục Thủy sản, Tổng cục Thủy lợi; Cục Trồng trọt, Cục Chăn nuôi, Cục Chế biến NLTS và muối, Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển nông nghiệp nông thôn) và 55/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Trong đó có 547 ý kiến tham gia góp ý với 506 nội dung. Ban soạn thảo đã tổng hợp, giải trình tiếp thu ý kiến và hoàn thiện Dự thảo Nghị định về Hợp tác xã nông nghiệp để trình Chính phủ.

VI. BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA NGHỊ ĐỊNH

1. Bố cục và nội dung chủ yếu của Nghị định:

Dự thảo Nghị định về Hợp tác xã nông nghiệp có 05 chương, 21 điều như sau:

Chương I: Gồm 03 điều quy định về phạm vi điều chỉnh; đối tượng áp dụng và khái niệm về hợp tác xã nông nghiệp.

Chương II: Gồm 03 điều quy định đặc thù về tài sản, hoạt động và phân phối lợi ích của hợp tác xã nông nghiệp.

Chương III: Gồm 09 điều quy định về chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với hợp tác xã nông nghiệp; nguồn vốn, cơ chế và tổ chức thực hiện chính sách hỗ trợ; thủ tục hỗ trợ hợp tác xã nông nghiệp.

Chương IV: Gồm 04 điều quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước đối với hợp tác xã nông nghiệp của ngành nông nghiệp.

ĐỂ LẠI LỜI NHẮN


Ngôn ngữ - Language

Thăm dò ý kiến






Xem kết quả

Thống kê

  • Đang online : 661
  • Ngày hôm nay : 30
  • Trong tháng này: 5714
  • Tổng số lượt truy cập : 428286
  • Tổng số bài viết : 200
  • Tổng số thảo luận : 78

Đối tác